Showing posts with label Du lịch ĐBSCL qua ảnh. Show all posts
Showing posts with label Du lịch ĐBSCL qua ảnh. Show all posts

Nhà cổ Huỳnh Phủ - Bến Tre


Nhà cổ Huỳnh Phủ - Bến Tre

Nhà cổ Huỳnh Phủ (xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre) là một công trình kiến trúc điêu khắc gỗ độc đáo, mang đặc trưng miền sông nước Cửu Long do ông Huỳnh Ngọc Khiêm (1843-1927) để lại. Nhà cổ Huỳnh Phủ đã được Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch Việt Nam công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 2011.
Ông Huỳnh Ngọc Khiêm là người miền Trung vào Nam lập nghiệp từ lúc còn tay trắng cho đến khi sự nghiệp giàu có vào bậc nhất ở vùng cù lao Minh và đất Bến Tre lúc bấy giờ. Theo những cao niên xã Đại Điền kể lại, việc xây dựng và hoàn thành ngôi nhà có nhiều chuyện đã trở thành giai thoại. Chuyện rằng, người thợ lúc kéo gỗ khởi công làm nhà ăn bưởi và ném hột quanh nhà, hột bưởi nẩy mầm thành cây, lớn lên cho trái chín mà ngôi nhà vẫn chưa xong. Ngôi nhà làm lâu đến mức các thợ lúc dựng nhà còn bé, khi lớn lên được ông đứng ra lo việc vợ con rồi mà vẫn chưa hoàn thành. Theo căn cứ là bức hoành phi mừng tân gia họ Huỳnh của Tri huyện Bảo An Thái Hữu Võ tặng vào năm Giáp Thìn (huyện Bảo An thuộc cù lao Bảo, tỉnh Bến Tre lúc bấy giờ) thì ngôi nhà được hoàn thành trước năm Giáp Thìn (1904). Vì thế, có thể ngôi nhà được xây dựng vào khoảng cuối thập niên 80 hoặc đầu thập niên 90 của thế kỷ XIX.
Họa tiết khắc gỗ là những bức tranh sinh động, mô tả cảnh vật thiên nhiên của vùng sông nước
Họa tiết khắc gỗ là những bức tranh sinh động, mô tả cảnh vật thiên nhiên của vùng sông nước. (Ảnh: Lê Minh)
Anh Huỳnh Ngọc Hồng, cháu đời thứ 6 rất nhớ những giai thoại về ngôi nhà cổ của dòng họ
Anh Huỳnh Ngọc Hồng, cháu đời thứ 6 rất nhớ những giai thoại về ngôi nhà cổ của dòng họ. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Song sắt nhà cổ Huỳnh Phủ mang dáng dấp kiến trúc Pháp.
Song sắt nhà cổ Huỳnh Phủ mang dáng dấp kiến trúc Pháp. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói có hoa văn
Mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói có hoa văn. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Nhà cổ Huỳnh Phủ nay thuộc địa phận xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Nhà cổ Huỳnh Phủ nay thuộc địa phận xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Bà Hồ Thị Như 75 tuổi (bên trái), cháu dâu đời thứ 6 của ông Huỳnh Ngọc Khiêm, hiện đang sống tại nhà cổ Huỳnh Phủ. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Bà Hồ Thị Như 75 tuổi (bên trái), cháu dâu đời thứ 6 của ông Huỳnh Ngọc Khiêm, hiện đang sống tại nhà cổ Huỳnh Phủ. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Nhà cổ Huỳnh Phủ hiện tại gồm ngôi nhà chính có diện tích trên 500m2 với một căn phụ bằng gạch nối liền ở góc phải. Nhìn từ bên ngoài và theo các hàng cột phía trước của ngôi nhà, ta thấy có chín gian, nhưng thực ra đây là ngôi nhà ba gian được mở rộng ra bốn phía, một kiểu nhà rất to ngày xưa và chỉ những người thật sự giàu mới có khả năng xây dựng. Nhà xây dựng trên nền cao 0,7m, chung quanh được kè đá xanh, thềm cũng được viền bằng loại đá này. Nhà có 80 cây cột, trong đó 48 cột gỗ và 32 cột gạch (thay cho cột gỗ bị hư hỏng vào những năm 1945 - 1954), làm theo kiểu nhà nhà rường ở Huế. Hai hàng cột cái gồm 8 cây đứng song song nhau. Các cây cột cái cao trên 5,5m, chu vi 1,2m, gắn kết với nhau từng cặp theo chiều ngang bởi các cây trính và theo chiều dọc mỗi hàng có một thanh gỗ dài xuyên qua bốn cây cột. Mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói có hoa văn. Hai đầu song được xây kín và trang trí hình một bông hoa 4 cánh.
Nội thất và sườn nhà làm bằng các loại gỗ có giá trị cao như: lim, thau lau. Nội thất chia thành 2 phần: từ cột nhất của mặt hậu vào phục vụ sinh hoạt gia đình, từ cột nhất của mặt hậu trở ra cột hàng nhì của mặt tiền sử dụng vào việc thờ tự. Phía tả thờ Cửu Huyền Thất Tổ, giữa thờ Phật Bà Quan Âm, phía hữu thờ ông, bà Huỳnh Ngọc Khiêm. Khánh thờ Phật Bà Quan Âm chạm trổ long, lân, phụng theo lối song phụng tranh châu, nền đế là hai kỳ lân đối diện, cùng nhe nanh, mặt hướng ra ngoài, chân trụ chạm rồng ba móng, mặt hướng lên trên (theo truyền tụng rồng ba móng thường dành cho dân thượng lưu, rồng bốn móng dành cho quan lại, rồng năm móng dành cho vua).
Lư hương bằng gỗ trên bàn thờ gia phả. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Lư hương bằng gỗ trên bàn thờ gia phả. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Công đoạn chạm khắc gỗ đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật

Công đoạn chạm khắc gỗ đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. (Ảnh : Lê Minh)
Các vật dụng trong nhà cổ Huỳnh Phủ toát lên vẻ cổ kính
Các vật dụng trong nhà cổ Huỳnh Phủ toát lên vẻ cổ kính. (Ảnh : Lê Minh)
Bộ bàn ghế cổ khảm xà cừ và đá với các họa tiết cầu kì, tinh xảo.
Bộ bàn ghế cổ khảm xà cừ và đá với các họa tiết cầu kì, tinh xảo. (Ảnh : Lê Minh)
Phong cách điêu khắc nhà rường” Huế
Phong cách điêu khắc nhà rường” Huế. (Ảnh: Lê Minh)
Tất cả các bức hoành phi, bài vị, biển đề… đều viết bằng chữ Hán, khắc vào gỗ, chạm trổ hoa văn công phu, sơn son thiếp vàng, có tuổi đời tương đương với tuổi thọ ngôi nhà. Các tấm chạm đã đạt tới trình độ cao của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Đó là những bức tranh sinh động mô tả cảnh vật thiên nhiên vùng sông nước, của vùng đất cù lao bốn mùa cây xanh, trái ngọt, cảnh vật thanh bình, chim muôn ca hát, cùng các loại sinh vật khác... Tiền công thù lao cho thợ không tính bằng ngày công mà tính bằng khối lượng dăm bào sau một ngày lao động. Mỗi chén dăm bào được trả 5 cắc bạc, riêng thợ cái được trả 2 đồng/ngày, cơm nước chủ nhà đài thọ (thời gian này một giạ lúa bằng 1,8 cắc bạc). Ông Huỳnh Ngọc Khiêm vốn là người tỉ mỉ nên dù giá công cao nhưng thợ không được làm quá một chén dăm bào/ngày vì như vậy cho là làm dối.
Cách trang trí nhà cổ Huỳnh Phủ thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy trong việc kết hợp đề tài dân dã là các loài động, thực vật quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của cư dân địa phương như chuồn chuồn, chim, mãng cầu… xen với các đề tài theo khuôn mẫu đã có như tứ linh, tứ quý, tứ thời... Các mô típ phương Tây cũng xuất hiện một cách nhuần nhuyễn như hoa hồng, nho, sóc, chuỗi ngọc... Đây là một di tích kiến trúc có nhiều chất liệu mỹ thuật quý giá, đánh dấu một giai đoạn trong lịch sử trang trí của mỹ thuật truyền thống Việt Nam tại Nam Bộ.
Khu mộ cách ngôi nhà cổ 3km thuộc xã Phú Khánh có diện tích 966m2, được xây  năm Tân Hợi (1911). Vật liệu xây dựng là đá xanh từ hàng rào bên ngoài cho đến phần lăng mộ bên trong. Rào cao khoảng 1,5m gồm 2 phần: phần trên là những thanh đá được cắt hình chữ nhật hoặc hình tam giác, phần dưới là những phiến đá nguyên.
Anh Huỳnh Ngọc Hồng, cháu đời thứ 6, thăm non và chăm sóc hai ngôi mộ tổ tiên
Anh Huỳnh Ngọc Hồng, cháu đời thứ 6, thăm non và chăm sóc hai ngôi mộ tổ tiên. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Phù điêu kỳ lân trên ngôi mộ cổ.
Phù điêu kỳ lân trên ngôi mộ cổ. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Bức họa chân dung ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm, người đã cho xây dựng nhà cổ Huỳnh Phủ.
Bức họa chân dung ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm, người đã cho xây dựng nhà cổ Huỳnh Phủ. (Ảnh: Nguyễn Luân)
Hai ngôi mộ của ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm làm giống nhau theo kiểu lăng mộ với tường đá cao bao bọc xung quanh. Chân mộ là tấm bia cao 1,5m, rộng 1,2m, có mái che với hoa văn trên nóc và chân bia. Tất cả đều được chạm khắc tinh xảo trên chất liệu đá.
Bài: Nguyễn Oanh - Ảnh: Lê Minh, Nguyễn Luân
Báo Ảnh Việt Nam

Nghề Chạm Khác Gỗ Chợ Thủ (Chợ Mới - An Giang)

Là một tỉnh miền Tây Nam Bộ, An Giang có vị thế đặc biệt với nhiều di tích lịch sử - văn hoá nổi tiếng như lăng Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Tây An (ở Châu Đốc), khu thánh địa Bửu Sơn Kì Hương (ở xã Thới Sơn - huyện Tịnh Biên)...        

Trong, vùng cù lao Ông Chưởng (thuộc huyện Chợ Mới ngày nay) giữ một thế chiến lược có một không hai: được án ngữ bởi ba mặt sông (sông Tiền, sông Hậu và sông Vàm Nao) như một chiếc đầu tàu vượt sóng Mêkông để lao về phía trước. Chính vì thế, khi vừa làm chủ được vùng đất này, chúa Nguyễn liền cho xây dựng ngay chốt phòng thủ chiến lược mang tên Thủ Chiến Sai, mà danh xưng còn lưu lại cho đến ngày nay: Chợ Thủ. Đặc biệt, theo ông Lê Văn Nẩm - ông từ thứ 14 của đình Chợ Thủ - thì đình này được khởi lập từ năm 1786. Đến nay, đình Chợ Thủ vẫn còn tồn tại vững vàng như một nhân chứng cho bề dày lịch sử của vùng đất này.       
Do những điều kiện trên, vùng cù lao Ông Chưởng là vùng đất phù sa màu mỡ cùng với nguồn lợi sông nước nên từ rất lâu đã sớm trở thành khu dân cư sầm uất. Đất lành chim đậu, lưu dân người Việt chọn nơi này làm nơi dừng chân sinh sống và lập nghiệp. Đặc biệt làng Long Điền - Chợ Thủ (mà xưa thuộc thôn Kiến Long – phủ Tuy Biên; nay là xã Long Điền A) do điều kiện thuận lợi nên sớm hình thành các làng nghề thủ công mỹ nghệ:
Long Điền - Chợ Thủ quê anh
Trai chuyên làm tủ, gái sành cửi canh.
Thợ chạm đang thực hiện kỹ thuật chạm nổi. Ảnh: Hoàng Hương















Nghề chạm khắc gỗ ở Chợ Thủ có nguồn gốc từ miền Bắc theo hành trang của lưu dân người Việt trên đường Nam tiến, nghề này đã sớm được gieo trồng ở vùng Cao Lãnh từ các thế kỉ trước. Khi thực dân Pháp chiếm Cao Lãnh thì các nghệ nhân tản cư về vùng Chợ Thủ, trong đó có nghệ nhân Tám Dinh. Về sau, nghề này được truyền lại cho mai sau, hiện nay ông Tư Chia đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển làng nghề.
Càng gắn bó với nghề bao nhiêu, những người thợ ở đây lại càng tỏ lòng tri ân, tôn kính tổ nghề bấy nhiêu. Đó cũng là một biểu hiện cao quý của đạo lý truyền thống dân tộc và lòng yêu nghề của họ. Mỗi năm họ tổ chức cúng tổ 2 lần: 13/ 6 và 20 tháng chạp âm lịch. Nghề chạm khắc gỗ ở đây thờ tam vị thánh tổ là: Lịch Đại tổ sư, Lỗ Ban tiên sư và Cửu Thiên Huyền Nữ – trong đó Lịch Đại tổ sư  là vị tổ lớn nhất. Việc thờ phụng cả ba vị thánh tổ này cũng phần nào cho thấy tinh thần bao dung, cởi mở, hoà đồng như bản chất con người Nam Bộ.
Kỹ thuật:
Thao tác, kĩ thuật chạm khắc gỗ ở Chợ Thủ rất đa dạng, phong phú, nhưng có thể quy về 4 loại chính: chạm trổ, chạm lộng, chạm nổi và chạm âm. Mỗi loại chạm ứng với từng loại sản phẩm nhất định. Chạm trổ là tạo nên hình tượng không gian ba chiều và tách rời, khiến ta có thể quan sát được hình tượng từ mọi hướng, thường áp dụng đối với hình người hay thú. Chạm lộng cũng tạo nên hình tượng không gian ba chiều nhưng không tách rời nhau mà các hình tượng này dính liền nhau thành một dãy, thường áp dụng đối với các hình tứ linh hay tứ quý trên các bao lam, thành vọng. Chạm nổi tạo hình tượng nổi một phần trên nền gỗ có hoa văn đính kèm, thường áp dụng đối với các bức phù điêu. Còn chạm âm là loại chạm đơn giản, khoét lõm vào bề mặt gỗ, thường áp dụng đối với các tấm liễn (khắc các câu đối bằng chữ Nho).
Dụng cụ:
Để tạo nên những sản phẩm tinh xảo, nghề chạm khắc gỗ ở Chợ Thủ cần đến rất nhiều dụng cụ chuyên dụng Trong đó các loại đục giữ vai trò cực kì quan trọng. Thông thường một bộ đục gồm khoảng 40 chiếc, quy về 4 loại chính: đục bạt, đục dũm, đục tách và cây chàng. Đục bạt là loại đục thông thường, có lưỡi phẳng,  dùng để phá nền, tạo khung mặt phẳng trong chạm nổi. Đục dũm có hình dáng gần giống như đục bạt nhưng  bề mặt lưỡi mô lên như hình máng xối dùng để tạo các mặt cong. Đục tách có mặt lưỡi hình chữ V dùng để khắc các đường nét . Cuối cùng là cây chàng có lưỡi nhọn hình mỏ chim dùng để khắc các nét chữ nhỏ.
Để làm ra một sản phẩm phải qua rất nhiều công đoạn, gồm có sự tham gia của cả thợ mộc lẫn thợ chạm.
Đầu tiên là khâu chọn gỗ. Các loại gỗ dùng chạm khắc thường là gỗ quý, gồm có: gỗ nhóm 1 như cẩm lai, bên (tức gõ đỏ) dùng đóng bàn ghế, tủ; nhóm 2 có ván hương, căm xe… dùng làm cửa; nhóm 3 có thao lao dùng làm các bao lam. Các loại gỗ này thường có nguồn gốc từ Campuchia, được tập kết về Mỹ Luông giáp ranh với Chợ Thủ.
Sau khi chọn gỗ thì người thợ cả phải xử lý gỗ, tức là tính toán đường cưa sao cho tận dụng được tối đa thân gỗ, rồi phơi nắng khoảng 10 ngày để cho gỗ định hình, không bị biến dạng sau khi chạm khắc.
Đề tài:
Các đề tài thường là do khách hàng yêu cầu hoặc do nghệ nhân sáng tạo hoặc do hoạ sĩ chuyên nghiệp thiết kế. Các motif hoa văn thường theo mẫu có nội dung truyền thống nhưng vẫn pha thêm cảm hứng sáng tạo của  nghệ nhân. Các motif truyền thống thường là:
- Tứ quý (mai – lan – cúc – trúc) biểu tượng của 4 mùa trong năm.
- Tứ linh (long – lân – quy – phụng) biểu tượng của tinh hoa trời đất vũ trụ.
- Lưỡng long triều nhật (hay lưỡng long tranh châu) có hình hai con rồng chầu hai bên mặt trời (hay viên ngọc). Rồng biểu tượng cho nguyên lý dương nên hình tượng này biểu thị cho “tam dương”, biểu ý cho câu chúc “tam dương khai thái”, tức mọi việc đều hanh thông, thuận lợi.
- Rồng – phượng: biểu thị cho âm dương hoà hợp, trời đất giao hoà.
- Long – ẩn (tức rồng ẩn hiện trong mây), biểu thị cho cơ hội tốt lành (vân long khánh hội).
- Quy – hạc: biểu thị cho sự trường tồn, vĩnh cửu.
- Trúc – mai: tượng trưng cho chí  khí  thanh cao của người quân tử.
- Tùng – lộc: biểu thị ước vọng sống lâu và gặp nhiều may mắn.
- Quả lựu (nhiều hạt) biểu thị cho ước vọng đông con và tình yêu sâu sắc.
- Voi: chữ Hán là “tượng”, gần âm với “tường” tức điềm lành.
điêu khắc
Những thợ chạm đang thực hiện kỹ thuật chạm trổ. Ảnh: Hoàng Hương
Trong khi thiết kế các hình tượng này, người thợ luôn tính đến sự cân đối hài hoà của nó. Ví dụ rồng thì phải có đầu lớn (10 phần), cổ nhỏ hơn (7 phần), mình thon (9 phần) và đuôi nhỏ (6 phần). Cây thì phải có gốc to rồi nhỏ dần về trên. Trong mô típ rồng- phụng thì giữa rồng và phụng phải có độ dài ngang nhau để tạo nên tính đối xứng. Trong tứ linh thì rồng- phụng phải đặt bên trên và dài hơn, còn lân- quy phải đặt bên dưới và ngắn hơn.
Mỗi loại mô típ hình tượng ứng một không gian bài trí nhất định. Ví dụ các mô típ tứ linh, lưỡng long triều nhật, (hay lưỡng long tranh châu), quy - hạc thì nhất định phải được đặt ở đình miếu; còn các mô típ khác thì có thể được bày trí ở nơi còn lại.
Khâu tiếp theo là tạo nền, tạo dáng. Khâu này do thợ mộc đảm nhận. Nếu là chạm trổ hay chạm lộng thì trước tiên dùng khoan tạo lỗ xuyên qua thân gỗ rồi  tra lưỡi cưa vào tiến hành cưa lộng theo đường nét đã vẽ sẵn. Lưỡi cưa dùng để cưa lộng thường có bề gáy rất ngắn giúp đường cưa có thể uyển chuyển linh hoạt theo đường nét hoa văn uốn lượn phức tạp. Nếu là chạm nổi hay chạm âm thì dùng đục bạt phá nền, tạo khung.
Kế đến là khâu chạm khắc do thợ chạm đảm nhận. Đây là khâu quyết định, là lúc người thợ “thổi  hồn mình vào trong từng thớ gỗ”.  Bằng cách phối hợp nhuần nhuyễn 4 loại đục (mà chủ yếu là đục dũm và đục tách), người thợ tạo tác nên nhiều đường nét, hình tượng mới lạ mà trên nền gỗ chưa hề có.
Khâu cuối cùng là cạo láng, làm bóng và sơn. Đây là thao tác tô điểm thêm cho các hoa văn hình tượng đã có. Ở Chợ Thủ không có thợ cẩn ốc xà cừ nên những sản phẩm nào cần cẩn ốc thì  phải nhờ thợ chuyên môn ở Mỹ Luông làm giúp. Như vậy, để làm nên một sản phẩm hoàn chỉnh đôi khi phải  cần có sự phối hợp của cả thợ mộc, thợ chạm và thợ cẩn.
Nghề mộc chạm khắc gỗ ở đây từ bao đời đã tạo cho Chợ Thủ một diện mạo riêng biệt so với các vùng xung quanh. Ít có ai nghĩ rằng giữa một vùng đồng ruộng chân chất lại xuất hiện một làng nghề như vậy.
Lê Công Lý

Đền thờ Trương Định - Gò Công - Tiền Giang

Bên trong đền thờ Trương Định ở thị xã Gò Công Tiền Giang
Bên trong đền thờ Trương Định ở thị xã Gò Công,  Tiền Giang


Xem 50 Tôn Đức Thắng, An Hoà, Sa Đéc ở bản đồ lớn hơn

Đình Châu Phú (Đình thần Nguyễn Hữu Cảnh) tỉnh An Giang

Ngôi đình do Nguyễn Văn Thoại (1761-1829) đứng ra xây dựng để thờ Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700). Có nhiều ý kiến khác nhau về năm xây dựng đình, song chỉ ở khoảng năm 1817 (năm ông nhậm chức Trấn thủ trấn Vĩnh Thanh) cho đến năm 1829 (năm ông mất).


Đình Châu Phú.


Tương truyền, lúc đầu đình được dựng đơn sơ với mái lá, vách ván, nền đất, tọa lạc trong một khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, nhiều bóng cây cổ thụ, mặt chính nhìn ra dòng sông Hậu, và có tên là đền Lễ Công, dân chúng quen gọi là đền Ông.

Sau đó, đình được bà Huỳnh Thị Phú (vợ Lê Công Thoàn) quan tâm coi sóc. Trong những năm 1838–1858, bà đã đứng ra tu sửa lại ngôi đền và xây nền gạch.

Sách Đại Nam nhất thống chí chép: "Đền Lễ Công ở thôn Châu Phú, huyện Tây Xuyên, thờ Nguyễn Hữu Kỉnh. Đền do Nguyễn Văn Thụy (tức Thoại Ngọc Hầu) dựng khi làm Trấn thủ, nay hương lửa vẫn như cũ, thường tỏ anh linh"...



Đây là ngôi đền được liệt vào danh mục thờ tự chính thống, phụng tự theo quốc điển thời nhà Nguyễn. Trong thời Pháp thuộc, như nhiều đền thờ khác, đền Lễ Công cũng bị đình hóa, tức trở thành đình thờ thần của làng, với tên gọi mới: Đình Châu Phú.

Gian thờ chính trong đình.
Một sắc phong thần.


Đến năm 1926, nhà cầm quyền Pháp ở tỉnh Châu Đốc quyết định di dời đình, để dựng lên nơi đó một bệnh viện (nay là Bệnh viện thị xã Châu Đốc). Bà Huỳnh Thị Phú và hương chủ Lan đứng ra vận động nhân dân đóng góp tiền của, để chuyển đình đến đầu chợ Châu Đốc, tức vị trí hiện nay.


Bởi công trình quá tốn kém, số tiền quyên góp và công quỹ của làng không đủ, chính quyền tỉnh phải tổ chức sổ xố Tombola để có thêm tiền xây dựng.

Từ đó đến nay, đã trải qua hơn 200 năm, tuy có sửa chữa, gia cố nhiều lần, nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc cũ.


Xem Đình Châu Phú, Châu Đốc ở bản đồ lớn hơn

Chùa Linh Sơn núi Ba Thê, huyện Thoại Sơn, An Giang

Chùa Linh Sơn (Ba Thê) còn được gọi là chùa Phật bốn tay núi Ba Thê, tọa lạc tại xã Vọng Thê (nay là thị trấn Óc Eo), huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một trong những địa điểm hành hương nổi tiếng của tỉnh.

Chùa Linh Sơn núi Ba Thê, huyện Thoại Sơn, An Giang
Chùa Linh Sơn được xây dựng vào năm 1913 (và được trùng tu mấy năm gần đây), cách chợ Vọng Thê khoảng 2 km về hướng đông. Ngôi chùa nằm trên nền một gò đất cao, bên những đại thụ râm mát, nơi triền núi Ba Thê, cạnh Khu di tích Nam Linh Sơn thuộc nền văn hóa Óc Eo.


Vào năm 1913, dân địa phương phát hiện một pho tượng Phật bốn tay ở tư thế đứng, cao 1,7m, nằm sâu trong lòng đất khoảng hai mét, tại khu vực dân cư gần chợ Ba Thê. Trước đó, người dân cũng đã tìm thấy hai tấm bia được làm bằng đá bùn có chiều cao khoảng 1,80m, dày khoảng 0,22m, khắc chữ cổ mà nhiều nhà nghiên cứu nói có thể là chữ viết của dân tộc Phù Nam xưa. Vì vậy, dân quanh vùng khi ấy bèn góp công, góp của dựng lên một ngôi chùa đặt tên là Linh Sơn Tự để tôn thờ tượng Phật và gìn giữ bia cổ.
Tham khảo từ wiki

Núi Tô Châu - Hà Tiên - Kiên Giang

Thị xã Hà Tiên là một dải đất hẹp nằm ven biển, với đầy đủ các dạng địa hình: vũng, vịnh, đồng bằng, núi, sông, hang động, hải đảo...tạo nên nhiều cảnh quan đẹp.
Sông Giang Thành bắt nguồn từ Campuchia, chảy vào khu vực Hà Tiên, dài khoảng 23 km. Sông đổ vào vũng Đông Hồ với chiều rộng cửa sông trên 200 m. Sông Giang Thành nối liền với kênh Vĩnh Tế tạo nên tuyến đường thủy quan trọng từ thị xã Châu Đốc đến thị xã Hà Tiên. Ngoài ra còn có sông Tô Châu và kênh Hà Tiên - Rạch Giá.
Các ngọn núi trên địa bàn thị xã hầu hết đều là những thắng cảnh như: núi Tô Châu, núi Đá Dựng, núi Bình San, núi Thạch Động...Ven biển Hà Tiên có nhiều bãi biển đẹp như: bãi biển Lộc Trĩ (bãi biển Mũi Nai). Ngoài khơi có quần đảo Hải Tặc với nhiều đảo đẹp, có tiềm năng du lịch.
Hà Tiên với nhiều cảnh đẹp (Hà Tiên thập vịnh) đã là đề tài xướng họa của Tao đàn Chiêu Anh Các dưới thời Đô đốc Mạc Thiên Tứ cai quản xứ sở này.
Núi Tô Châu bên Đông Hồ, Hà Tiên.


Xem Bản đồ cỡ lớn hơn